Làng xóm bây giờ đua nhau mọc lên những ngôi nhà hai tầng, ba tầng. Mái bằng, mái nhọn đủ cả. Con đường lát gạch lổn nhổn, nay được cải tạo thành đường bê tông. Những hàng rào xây gạch, cắm cọc sắt có mũi mác nhọn tua tủa xóm này, xóm kia.
Chả biết cơn cớ gì, Nguyễn Việt Bắc lại nôn nao nhớ con đường làng đất lầy lội thuở nào. Nơi ấy, cỏ gấu cỏ gà mọc rờn bốn mùa. Những hàng rào, bờ dậu có leo mồng tơi. Những mái nhà ngói thâm rêu, những mái tranh, mái rạ tùm hum đang ngậm khói chiều. Cái vị kho cá cùng trám bùi, mùi canh dưa, quyện cùng mùi bếp nhà ai đang quấy cám nồng nồng. Tiếng lợn eng éc đòi ăn. Tiếng gà cục ta cục tác về ổ. Tiếng móng chân trâu trầy thụt ngõ nhỏ. Tiếng ho thũng thẵng của cụ già. Tiếng trẻ ê a học bài, cùng tiếng trẻ nhỏ cười đùa khanh khách. Một hợp âm thân thuộc, chỉ những ai từng gắn bó với làng quê, nhất là vùng đồng bằng Bắc bộ, mới thấm, mới nhớ. Người ta gọi là hồn quê. Sau này, ở trong thơ của mình, Nguyễn Việt Bắc thốt lên, ấy là mùi quê.

Quê Nguyệt Đức của anh, đầu làng, có cây trôi sừng sững tự bao giờ. Mái trường tuổi thơ của anh từng học, nép bên tán cây. Cây trôi có tuổi cao, nhiều người trong làng không dám gọi là cây thường, mà quen gọi là “cụ cây”. Cụ trôi xòe tán bốn mùa xanh tốt. Những cành cây lực lưỡng như những cột đình xòe ngang, bứng lên trời những chồi, những búp, những nhánh xanh bừng lên niềm kiêu hãnh của sức sống xóm làng.
Những năm học cấp một, cấp hai, tiếng trống trường làng từng quyện vào cùng tiếng rì rào của tán lá cụ cây. Bao cậu học trò tinh nghịch, giờ giải lao, thường leo trèo cành la cành bổng. Có cu cậu nào táo tợn hơn, leo tót lên ngọn cây để nhìn toàn cảnh làng xóm, nhìn con đường mờ xa dẫn ra phố thị. Thân cây rỗng, trời mưa, cả nhóm học chui vào trú còn rộng. Khi vào học cấp ba, Nguyễn Việt Bắc cùng bao đứa trẻ làng, cuốc bộ lên học trường huyện. Hễ từ làng lên trường huyện, qua cụ cây cổ thụ, lứa học trò lại như được nghe tiếng hát rì rào của cụ cây động viên con cháu cố gắng học giỏi.
Đấy là thời tuổi thơ khốn khó. Nhà nghèo, không có xe đạp, cứ cuốc bộ non chục cây số lên trường huyện. Có hôm đi sớm, qua cụ cây trôi còn ngủ yên, chỉ có vài giọt sương đọng trên tán lá rơi xuống vai áo ướt lạnh. Tan học, cuốc bộ từ trường huyện về làng, bụng đói, nhưng hễ từ xa, nhìn thấy tán cây cụ trôi lừng lững góc trời, lại thấy khỏe chân, lại thấy làng quê như gần gũi rồi.
Nguyễn Việt Bắc là một trong số không nhiều trai làng may mắn sớm bước vào cửa trường Đại học. Những năm ấy, chiến tranh phá hoại còn căng thẳng. Học trường Kiến trúc, anh ôm ấp hoài bão, vẽ nhiều kiểu nhà mới, để xây dựng quê hương, đất nước khi chiến tranh kết thúc. Mỗi bận về quê, cái mùi quê lại thấm đẫm, quyến rũ. Có phải tâm hồn kiến trúc sư, cũng lãng mạn và mở ra tâm hồn thi sĩ cho anh? Những tứ thơ vụt hiện trong con người anh khi nào không hay. Những câu thơ da diết, lại là những câu thơ Nguyễn Việt Bắc viết về quê nhà.
Mùi quê
Kéo tôi trở lại làng
Mùi nhựa sung
Phết lên diều chiều gió
Mùi con ốc nhồi bén lửa
..Mùi rạ ẩm nấu cơm buổi trưa
(Mùi quê)
Cái đời sống thơ thới của vùng quê Kinh Bắc, tràn vào thơ anh rất rõ. Ấy là một sớm thu về thăm làng: Mặt trời còn chưa dậy/Ngủ vùi trong lớp sương mù/Đi trong mộng du/ Phả phía lưng nồng nàn hơi ấm/Tiếng chim thả xuống/Sương dần dần bay lên/Ngắt một bông hoa không tên/Gặp người đi trên đường không vội... (Mùa thu về Kinh Bắc).
Có phải quá yêu, quá thuộc cái làng quê của mình, nên Nguyễn Việt Bắc đã có những câu thơ vẽ nên bức tranh làng quê ngày mùa: Đang giữa mùa gặt/ Nhà nhà vắng như chùa bà Đanh/ Vấp ánh mắt/ Vấp bàn chân/ Thóc vàng đầy sân... Ngỡ tưởng quê hương ngày mùa ríu rít sự no đủ, nhưng anh lại nhìn ra cái giá người nông dân phải trả, để có hạt thóc. Ấy là Dòng sông mồ hôi nông dân (Mùa gặt). Ca dao cổ Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày. Nay thơ Nguyễn Việt Bắc, mồ hôi chảy thành dòng sông, thì thêm thấy cái giá của hạt thóc quá đắt, thêm thương sự lầm lũi, vất vả một nắng hai sương của người nông dân biết bao. Đây là bức tranh làng quê ngày mưa, Nguyễn Việt Bắc khéo khắc họa: Người đàn ông ngồi ở hiên/Thả khói thuốc/Người đàn bà/Đuổi lũ gà cục tác/Lũ trẻ khép nép trên giường. Xem ra, gia cảnh, còn bao nỗi lo toan thường trực. Chỉ có con mắt nhà thơ biết nhìn ra cái đẹp tự nhiên Cây trong vườn/Như từ buồng hóa trang/Bước ra/Tươi tắn/Múa trên sân gạch (Mưa ở quê).
Rõ là đời sống làng quê còn nhiều thấp thỏm lo âu. Được mùa này, mùa sau có thể lại thất bát. Sự bất trắc luôn thường trực. Nhưng con người ở đây, lại được an ủi, bởi thiên nhiên tốt tươi, xoa dịu sự nhọc nhằn của họ.
Cái chợ làng, một góc hồn làng, cũng đi vào thơ Nguyễn Việt Bắc một cách tự nhiên: Chợ làng họp ở đầu làng/Mớ rau/Con cá/Rơm vàng buộc xâu/Có bà quần vá áo nâu/Bàn chân cấu nắng/Trên đầu nón mê... Bức tranh tả thực Bà ngồi bán quả vườn quê, nhưng nhà thơ đắng đót nhìn Dăm ba quả ớt tái tê cả chiều. Câu thơ chứa chất sự cảm thông tần tảo của nỗi người. Phẩm chất nhà thơ hé lộ ở đây. Có lẽ vì quá yêu cái làng quê của mình, nên anh luôn bị bất ngờ với sự đổi thay của nó. Cô gái làng nay thành cô công nhân khu công nghiệp. Gái làng lam làm chân lấm tay bùn thuở nào, nay Em đi ủng xuống đồng cấy lúa. Nếu cô thôn nữ trong thơ Nguyễn Bính đổi thay sau mỗi lần ra phố thị, để thi sĩ từng phải kêu lên Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi. Thì nay, ở quê, sự biến đổi Gặt xong/ Em theo ra phố/ Khi về có máy (điện thoại) cầm tay. Để rồi, giờ trên đường làng Có thanh niên đầu trọc/ Và lũ gái quần đùi lông nhông (Mảnh vỡ). Và đẩy tâm thế nhà thơ vào nỗi bối rối Làng vẫn làng mà như đi lạc/ Tre không còn để mà kẽo kẹt/ Nhà ống liền kề... Vẻ đẹp thôn xóm yên bình ngày xưa biến mất. Làng của hôm nay Cái gỉ cái gi cái gì cũng có. Câu thơ như dự báo sự bất an rình rập. Anh như choáng trước một thế giới hỗn độn.
Làng quê thì đâu chả thế. Bao hương ước, bao hủ tục cưới xin ma chay như trói buộc con người tù túng trong lũy tre làng. Chả biết khi ấy, có phải vì túng thiếu, hay vì muốn thoát ly cái quê hương khốn khó của mình, mà Nguyễn Việt Bắc đùng đùng về quê bán mảnh vườn và nếp nhà tranh bao đời của ông cha để lại. Anh đón người mẹ già ra thành phố. Buộc cư trú ở cái thành phố như một chiếc đèn cù quay tít mù ngày đêm, bà mẹ anh như con cá rô mắc kẹt trong cái giỏ, cái nơm. Chiều chiều, đi làm về, Nguyễn Việt Bắc lại thấy cảnh người mẹ già của mình, đăm đăm ngồi chân cầu thang ngóng đợi anh. Anh biết mình có lỗi, rồi vội thu xếp tiền đem về xin chuộc lại mảnh vườn và nếp nhà cha ông mà anh trót bán đi. Anh mới thấm thía, con người không thể ruồng bỏ, trốn chạy quê hương, cho dù là quê hương còn lầm lũi, nhọc nhằn.
May mắn cho Nguyễn Việt Bắc, thời gian ngắn sau đó, anh có đủ tiền để dỡ đi căn nhà cũ, xây cất lên ngôi nhà mới ba tầng khang trang trên mảnh đất của ông cha mình. Mẹ anh lại có mái hiên rộng ngồi đón gió, tay run run nghiền cối trầu vỏ, cặp mắt già ngấn lệ ngắm nhìn cây mít, cây bưởi, cây na góc vườn ngày thêm xanh lá, tưng bừng vào mùa bói quả. Quê hương chuyển hóa. Bao lớp trẻ lại bỏ làng ra thành phố lập nghiệp. Làng xóm chỉ còn lại những người già và trẻ nhỏ. Như có gì hối thúc, cứ ngày nghỉ cuối tuần, Nguyễn Việt Bắc lại vội phóng xe máy về với người mẹ, về cởi trần cuốc xới mảnh vườn quê bé nhỏ. Bao nỗi niềm vui buồn thấm vào tâm hồn khi nào không hay. Những câu thơ của anh thêm thấm đẫm hồn cốt xóm làng. Sự chuyển hóa của xóm làng, như làm câu thơ anh không còn yên ả. Dù có viết về chân trời góc bể nào đó, anh vẫn muốn nói về cái làng quê đang bị xáo trộn của anh. Đấy là cái mùi quê tưởng mơ hồ, mà không lẫn được. Đấy là tâm trạng rối bời của một nhà thơ trước thực tế Làng vẫn làng mà như đi lạc.
Rồi những lũy tre quanh làng cũng bị đốn hạ. Bóng mát cây bàng, cây nhãn đầu ngõ cũng bị biến mất, vì sức phát triển của làng. Lối đi ngõ nhỏ có cỏ gấu, cỏ gà đã bị cát sỏi phủ lấp. Những mái nhà tranh chiều hôm ngậm khói không còn nữa. Không còn cảnh cầm đèn dầu í ới sang xin lửa hàng xóm nữa. Những mái nhà bê tông, mái tôn ốp - nam hầm hập bốc nhiệt. Những người hàng xóm sát kẽ ngạch bỗng dần xa lạ. Người mẹ già của anh đã về với tổ tiên. Cái cụ cây trôi sừng sững đầu làng cũng tới độ cỗi và đổ gục xuống. Cụ cây cổ thụ, niềm tự hào về sự sống của làng, cái mốc từ xa cho anh nhận ra làng mình, nay chấp nhận sự biến hóa sinh diệt. Tâm hồn mang mùi quê của anh bỗng hoang mang. Bây giờ lắm thứ hoang mang/ Bàn chân sấp ngửa sang ngang con đường. Để rồi anh tự thấy Mà chẳng mấy chốc/ mình thành/ đám mây (Bây giờ). Việc tổ mộ, họ mạc bỗng thành hoang hoải Hết họp tôi lại ra đi/ Xin cúi lạy tổ tiên ông bà phù hộ (Họp họ). Dường như có sự lúng túng, khi anh quay trở lại phố phường. Cái chốn đèn cù như ngày trước mẹ anh từng dị ứng, nơi người với người xa lạ Liền kề biết cũng như không và Chỉ có con người dửng dưng như không biết (Người chết ở phố nhà giầu). Nguyễn Việt Bắc vẫn thường bỏ phố phường, trở về với ngôi nhà đóng kín cổng cửa ở quê của mình. Lụi cụi và lặng lẽ. Anh như có phần lạc lõng giữa mùi quê của anh. Chả biết cô gái quê ngày trước của ông thi sĩ Nguyễn Bính áo cài khuy bấm, với cô gái làng thời nay, điện thoại cầm tay tuýt tuýt khách chơi gọi, cái nào em làm khổ tôi hơn, với tâm hồn nhà thơ đây?!
Có lần, Nguyễn Việt Bắc rủ chúng tôi về quê Nguyệt Đức của anh. Tới thăm nơi cụ cây trôi cổ thụ của làng, nay không còn nữa, tôi nhận ra sự hoang vắng trên khuôn mặt anh. Anh bùi ngùi kể lại kỷ niệm tuổi thơ lầm lũi của mình. Có nhiều buổi cuốc bộ lên trường huyện, vì nhà nghèo không có đồng hồ, nhìn sân trăng sáng, cứ thế ôm túi sách quáng quàng đi học. Quãng đường non mười cây số từ làng đến trường, có tán cây cụ trôi cổ thụ chào đón. Có cánh đồng mùa gặt tháng mười dâng hương. Bờ cỏ đẫm sương bên đường, đánh xoàn xoạt vào ống quần, chân dép cao su. Trăng quê ngày ấy trong sáng lắm. Đến trường vắng tanh, lại ngồi tựa gốc bàng sân trường ngủ tiếp giấc dài, mãi mới thấy trống trường thức dậy.
Trường học phố huyện đã kỷ niệm năm mươi năm. Ngày hội trường, thày hiệu trưởng vui mừng báo cáo, nhiều học sinh của trường nay đã là các nhà lãnh đạo, nhà quân sự, nhà khoa học, Giáo sư, Tiến sĩ danh tiếng. Duy có hai học sinh của trường là nhà thơ, nhà văn của Hội Nhà văn Việt Nam. Nhà thơ ấy, vốn là cậu học trò nhút nhát của lớp 10A năm nào. Nguyễn Việt Bắc rân rấn, bảo rằng, anh thành nhà thơ, bởi quê hương cho anh mùi quê riêng biệt. Nghiệp văn chương, chưa đem lại cho anh vinh quang gì đáng kể. Anh vẫn lặng lẽ viết. Giữa đám anh em viết lách, anh thường kiệm lời. Có người còn nhầm anh với một nhà thơ trùng tên, khác họ. Cũng chả sao. Anh tin, bạn đọc sẽ nhận ra mùi quê riêng biệt trong thơ anh. Đấy là hạnh phúc của người viết.
Nhưng hình như trong đời sống thực tế, cái thế giới làng quê lung linh kia, Mùi bồ kết nướng/ Mùi đàn ông/ Nũng nịu/ đàn bà cũng dần không còn nữa.
Vũ Từ Trang
Ý kiến ()